GuitarPro.Vn - Học Guitar Online - Diễn đàn Hàng Đầu về Guitar


User Tag List

Trả lời
 
Công cụ bài viết Kiểu hiển thị
  #1  
Cũ 03-05-12, 07:50 PM
Avatar của SirZozzo
SirZozzo SirZozzo đang ẩn
Thành Viên GuitarPro.VN
 
Level: Level: 2 - Class: None
EXP: 10/20 (50%)
SP: 5/10 (50%)
Số lần cộng|trừ: 0 lần
 
Tham gia ngày: Nov 2010
Bài gửi: 4
Thanks: 0
Thanked 9 Times in 2 Posts
Mentioned: 0 Post(s)
Tagged: 0 Thread(s)
Quoted: 0 Post(s)
Gửi tin nhắn qua Yahoo! tới SirZozzo Gửi tin nhắn qua Skype™ tới SirZozzo
Arrow Những nguyên tắc vàng trong chọn mua đàn Electric Guitar
Bài này sẽ đề cập đến các vấn đề mà bạn nên biết trong quá trình chọn mua một cây đàn. Các bạn có thể đặt câu hỏi và thắc mắc chung trong quá trình tìm hiểu và chọn mua cây đàn mơ ước phù hợp với nhu cầu và mong mốn của mình. Các câu hỏi hay sẽ được update trong post đầu.
Các kiến thức trong bài được lấy từ tài liệu và kinh nghiệm của các Luthiers và các hãng custom guitar nổi tiếng như:
  • Leo Fender
  • Premier Builders Guild
  • CP Thornton Guitar
  • Giffin Guitars
  • Ralph Novak
  • Guild of American Luthiers
  • Conklin Guitars
  • Nik Huber Guitars
  • Gibson Guitars
  • ESP Guitars
  • Ibanez Guitars
  • Vigier Guitars
  • .43 Guitars
  • Hufschmid Guitars
  • Suhr Guitars
  • Strictly 7 Guitars
  • Caparison Guitars
  • Jackson Guitar
  • EVH Gear
  • ...v...v...


1) Trước khi quyết định mua thứ gì bạn phải biết mình cần gì trước. Bởi vì chúng ta không thể mua cây đàn đánh jazz blues về đánh metal và death được. Bạn phải xác định được mình muốn đánh dòng nhạc gì để từ đó chọn được loại đàn phù hợp.


2) Hãy xác định phóng cách chơi nhạc và chất tone bạn cần trước khi chọn loại đàn nào phù hợp. Ví dụ nếu bạn đánh jazz, blues thì nên chọn những con đàn Hollow body, hay đánh những dòng như rock, metal thì nên chọn những con đàn Solid body. Nếu bạn cần chất tone đầm ấm, thì nên chọn những dáng đàn to dầy ví dụ như Les Paul. Nếu bạn cần chất tone sáng và năng động nên chọn những dáng đàn thanh mảnh ví dụ Stratocaster hay Ibanez.


3) Tiền nào của đấy. Một điều luôn luôn đúng trong thế giới thương mại ngày này. Bạn không thể mong cây đàn $500 của bạn xịn hơn cây đàn $1000~2000 được. Bởi vì những cây đàn giá trị cao thông thường sẽ có chất lượng gỗ và linh kiện cao hơn những cây tầm thấp.

4) 24 vs 22 vs 21 frets. Trước đây khi mới bước vào thị trường âm nhạc nhạc cụ, tôi được nghe nhiều người nói là chỉ cần 22 frets thôi 24 frets có mấy khi đánh tới đâu phí tiền. Sau vài năm nghiên cứu và tìm hiểu, tôi hiểu được rằng nếu đàn bạn có 24 frets thì đàn của bạn sẽ có 2 Octave mà tiếng việt hay gọi là Quãng 8. Như vậy tức là càng nhiều fret hơn thì bạn sẽ có nhiều note hơn để lựa chọn khi đánh. Thường những người chơi không yêu cầu có một cơ cấu phực tạp về các note ở dải tần cao thì họ chỉ cần 22 hoặc 21 frets. Trong khi một số guitar hero họ chọn 24 frets vì nhiều fret hơn sẽ cho họ thêm nhiều note cao tăng sự phức tạp trong câu cú ở những tình hướng cần các note cao hơn khả năng của đàn 22 và 21 frets.

Ngoài ra, đàn 22 và 21 frets, pickup neck nằm vào điểm chết của harmonic, nên neck pickup sẽ cho tone có một kiểu đầm và mềm hơn, nhưng bù lại sẽ không lên được harmonic ở một số note. Đặc điểm này vừa là ưu điểm, vừa là khuyết điểm của đàn 22 và 21 frets. Lý do là neck pu sẽ cho tone rất ấm và mềm, khi solo với low gain và overdrive sẽ ấm áp hơn. Nhưng vì ở vị trí điểm chết của harmonic nên nhiều guitarist kỳ tính họ không thích, những khi đó thì các cây đàn 24 frets sẽ đám ứng nhu cầu của họ. Với đàn 24 frets, neck pu vẫn ấm mà không bị mờ và nhèo note do mất harmonic ở một số cao độ.


5) Humbucker vs Single pickup. Single pu sẽ cho tone long lanh và sáng hơn. còn Humbucker pu sẽ cho tone dày, ấm, hi gain tốt hơn. Single thì sẽ bị ù và nhiễu khi đánh có gain do ảnh hưởng của dao động dòng điện 60Hz. Trong khi Humbucker thì do có thêm một coil đảo cực và vòng quấn nên nó triệt tiêu được vấn đề ù nhiễu do dòng điện này. Ngoài ra có một số pickup dạng single nhưng có 2 vòng quấn trong cùng một lõi nó gọi là Stack pu, loại pu này cũng triệt tiêu được hiện tượng ù nhiễu, output lớn hơn, và cũng phần nào cho ta được chất long lanh của single (dù không thể hoàn toàn bằng true single pu)


6) Active vs Passive pickup. Active sẽ cho bạn hi-output, khử noise trong mạch, có thể tăng headroom nhờ mod pin, tích hợp săn preamp trong pickup. Passive cho tone có dynamic cao hơn, tiêng căn được đa dạng hơn vì không có mạch preamp, nhưng sẽ phải tốn nhiều tiền bạc hơn cho việc giảm noise. Dòng pickup nào cũng có lợi thế riêng của mình, sự lựa chọn còn lại tùy thuộc vào sở thích của bạn. Không có loại nào dở hơn loại nào chỉ có đôi tai bạn thích loại nào hơn mà thôi. Một thực tế cho thấy là rất rất nhiều nghệ sĩ vận chọn Active pickup để đặt niềm tin của mình vào đó.


7) Tremolo vs Fixed. Nhiều người thường nghĩ đàn Fixed bridge giữ tune tốt hơn đàn Tremolo, nhưng thực tế còn tùy thuộc vào chất lượng của bộ Tremolo đó. Những bộ Tremolo xịn có giá tầm $250 có thể cho bạn giữ tune tốt ngang ngửa và có khi còn hơn những cây đàn Fixed. Đàn Tremolo cho bạn nhiều thú vị hơn trong quá trình chơi, có rất nhiều kỹ thuật động đáo mà chỉ đàn Tremolo mới có. Tuy nhiêu với những người kỹ tính thì họ chỉ chọn đàn Fixed do khi thực hiện các kỹ thuật bend và vib ở cường độ mạnh thì khi kéo dây đồng thời cũng làm trùng các dây còn lại xuống. Vì vậy mà đàn Fixed cho độ ổn định có phần tốt hơn. Nếu bạn lựa chọn Tremolo thì đừng ngần ngại mua hoặc nâng cấp bộ nhún tốt, vì nó sẽ tích kiệm tiền thời gian và công sức của bạn sau này.


8) Nếu bạn phân vân nên chọn gỗ hay cấu trúc neck thế nào thì hãy tham khảo: Tone Woods cho Electric Guitar và Bass


9) Tầm quan trọng của pickup. Một số người thiển cận cho rằng, ở đàn điện gỗ quyết định tiếng của cây đàn. Sự thực hoàn toàn trái ngược. Vì sao ư? Hãy nhìn ngay tới cái tên Electric Guitar. Vâng các thành phần điện mà ở đây chúng ta đang nói về pickup là thành phần chính tác động tới tone của cây đàn. Nếu bạn có điều kiện hãy thử thay các pickup khác loại, vào một cây đàn, bạn sẽ thấy các pickup sẽ cho cây đàn các tiếng khác nhau. Vì pickup có một chất tiếng riêng, không loại nào giống loại nào (một cách hoàn toàn). Một ví dụ khác cây đàn Strat rõ ràng nó nổi tiếng về chất tone long lanh, chất country, blues rock. Nhưng nếu bạn muốn đánh heavy metal trên đó thì chỉ cần thay pickup là nhu cầu của bạn hoàn toàn được đáp ứng. Và ngược lại. Tuy nhiên hãy luôn nhớ rằng, gỗ không phải là không quan trọng, vì gỗ sẽ đóng góp một phần vào cách thể hiện chất tone của pickup, nó làm chất tone đó mềm đi, quyết liệt hơn, long lanh hay đầm ấm hơn. Tuỳ nhiên gỗ không quyết định chất tiếng cây đàn đó. Và bạn không thể lên sâu khấu diễn với cây đàn Electric Guitar mà không có pickup hay không cắm điện.


10) Một cây đàn tầm trung, thay pu xịn tiếng sẽ hay hơn và ngược lại một cây đàn xịn mà pickup kém sẽ cho tiếng chất lượng thấp. Điều này hoàn toàn đúng, vì vậy bạn hoàn toàn có thể thay đổi chất tone, nâng cao chất lượng tiếng của cây đàn mình bằng cách thay pickup. Nhưng hãy nhớ răng đàn tốt sẽ cho chất tiếng sâu hơn, đàn kèm chất lượng sẽ cho tone nông hơn.

11) Một cây đàn tốt là cây đàn có action tốt. Action ở đây ý nói độ cao của dây đo tại fret thứ 12. Tiêu chuẩn của một cây đàn có action tốt là:
-Dây E (Mì) tính tử đỉnh fret tới mép dưới của dây có độ cao 1.5~2.0 mm
-Dây e (Mí) tính tử đỉnh fret tới mép dưới của dây có độ cao 1.0~1.5 mm

[IMG][/IMG]

12) Body của đàn được kết cầu càng nhiều mảnh sẽ làm giảm độ cộng hưởng và độ sâu của tiếng đàn. Một thực tế là những cây đàn body được làm nguyên từ một miếng gỗ sẽ cho tiếng sâu hơn và sustain nhiều hơn các cây đàn có body được kết cầu từ 2,3 hoặc 5 tấm gỗ. Lý do là khi có cùng một kết cầu liền mạch body 1 tấm gỗ cho độ cộng hưởng truyền âm tốt hơn vì năng lượng dao động được đi trên một khối kết dính không đứt đoạn như các body 2 3 và 4 mảnh.


13) Bolt-on vs Set-in vs Neck-through. Bolt-on cho tiếng sạch nhất và tạo điều kiện cho chất gỗ của body tham gia nhiều nhất trong quá trình hình thành chất tiếng của cây đàn, đồng thời truyền năng lượng dao động xuống body rất tốt, có khả năng thay thế trong trường hợp cần nâng cấp hoặc sửa chữa. Set-in cho tiếng ấm và đầm nhất, tuy nhiên do ở kết cấu neck này, neck được kết dính với body bởi lớp keo dán, nên một phần năng lượng sẽ bị lớp keo này hấp thụ đây là lý do mà đàn Set-in có tiếng ấm và có phần nông nhất trong 3 loại cấu trúc, khả năng thay thế sửa chữa thấp, nếu có thể thì chi phí thực hiện cũng rất cao. Neck-through là kết cấu có khả năng truyền năng lượng tốt nhất, cho sustain tốt nhất, tuy nhiên chi phí làm đắt và không có khả năng thay thế sửa chữa nến hỏng.

Xét về độ hiệu quả Bolt-on và Neck-through được đánh giá cao nhất về độ rõ ràng và mạnh mẽ trong việc góp phần hình thành tone đàn. Set-in có cấu trúc kém nhất và có nhược điểm làm giảm năng lượng dao động truyền từ neck xuống body làm tiếng bị giảm độ rõ ràng và sự mạnh mẽ. Tuy nhiên với Set-in nếu nhà sản xuất thực hiện tốt thì vẫn phát huy được lợi điểm này dành cho các style như Blues và Jazz hay những style nhạc cần chất ấm áp và chất fat tone (tone béo mập, dầy và đầm)


14) Hãy chú ý đến bộ khoá đàn - Tuners. Với những cây đàn fixed bridge, điều quản trọng nhất là khoá đàn. Vì khi bridge của bạn đã fixed rồi, mà khoá đàn không tốt thì khi bạn thực hiện các technique như bend hay vib hay chỉ sau một vài câu đàn thì tune đàn của bạn đã có thể bị sai lệch mất rồi. Ở đàn Tremolo thì không cần Tuners quá tốt, nhưng nên chú ý tới Locking Nut và khả năng giữ dây của khối Tremolo. Hãy kiểm tra bằng cách bend dây lên 1.5~2 note cao hơn rồi kiểm tra lại, nếu cao độ dây không thay đổi thì bạn có thể hài lòng với những gì mình đã có.


15) Dây đàn cũng là yếu tố quan trọng trong việc hình thành tiếng đàn. Nếu như Pickup là thành phần quan trong nhất trong việc hình thành tone đàn, thì nếu không có dây đàn dao động tạo ra sóng âm rồi từ đó chuyển đổi thành âm thanh thì một cây đàn không có dây sẽ không làm nên điều gì. Thực tế là, nếu bạn có 1 pickup, đưa nó vào dưới những sợi dây đàn được gá vào hai điểm không liên quan tới nhau. Thì khi gảy dây đàn thì pickup vần sẽ bắt được dao động của dây chuyển thành âm thanh sau đó mà không cần có sự thống nhất trong một thể (vì trong ví dụ này dây đàn được căng tại 2 điểm khác nhau không liên quan và pickup được đứng độc lập ở giữa nhận dao động). Vì pickup sử dụng lực từ trường, nên pickup của bạn trong thành phần phải có nhiều thành phần "sắt" thì chúng mới tương tác được với nam trâm trong pickup. Dây đàn có độ căng khác nhau cho tiếng khác nhau. Dây đàn có hàm lượng "sắt" trong thành phần khác nhau cho tiếng khác nhau. Càng nhiều thành phần sắt, thì càng nhiều output và độ rõ ràng trong chát tiếng (tuy nhiên nhiều sắt thì sẽ nhanh rỉ hơn). Cấu trúc dây cũng cho tiếng khác nhau, ví dụ dây có lõi lục lăng sẽ cho tiếng sáng và sắc hơn, nhạy gain hơn và phản ứng tốt hơn với các technique. Dây có cấu trúc lõi tròng sẽ cho tiếng dầy hơn, đầm hơn, âm lượng cao hơn (không quá nhiều)


16) Scale length 24.75" vs 25" vs 25.5" vs 26"~27". Lại nói về những vấn đề liên quan tới việc hình thành chất tone của cây đàn, nếu như ta gắn 2 đầu dây vào 2 điểm không liên quan và cho pickup ở giữa thu dao động chuyển thành âm thanh, thì nếu ta nới rộng hoặc thu hẹp 2 điểm của 2 đầu dây thì ta sẽ thấy tone cũng thay đổi. Hiện nay đa số các đàn điện sử dụng độ dài scale từ 24.75"~27" (có thể có những biến thể dài hơn hoặc ngắn hơn, nhưng đa phần chỉ là thiểu số tuỳ vào người chơi lựa chọn cho phù hợp nhu cầu bản thân).

Về nguyên tắc scale ngắn hơn thì treble sẽ hay hơn, scale dài hơn thì bass hay hơn, sustain nhiều hơn. Scale ngắn thì tiếng các dây trần thể hiện những note cao tốt hơn, chất tiếng ngọt hơn. Scale dài thì tiếng các dây bọc mạnh mẽ hơn, gầm gừ hơn, cho chất tiếng nhiều output hơn.

Xét về Tension - độ căng, thì scale càng ngắn dây càng cứng, sustain cùng giảm dần. Đa số người chơi giờ có định nghĩa trong đầu là scale dài hơn thì dây cứng hơn, khó bend hơn. Đây là một định nghĩa sai về mặt vật lý, nhưng lại có phần đúng trong nhạc lý. Hãy mở lại sách Vật lý cấp 2 cấp 3 và thực hiện ví dụ sau: Nếu bạn đóng 2 đầu đinh cách nhau 10 cm và 2 đầu đinh khác ở 20 cm, buộc một sợ dây vào hai đầu, sau đó cố nhún kéo 2 sợ dây, bạn sẽ thấy sợ dây 10 cm khó nhún hoặc kéo hơn sợi dây 20 cm. Lý do là nếu chiều dài cơ sở dài hơn thì dây có khả năng đàn hồi và dao động tốt hơn dẫn tới việc kéo dây được căng ra dài hơn so với chiều dài cơ sở ngắn hơn. Tuy nhiên trong âm nhạc, chúng ta phân biệt theo các bước của sóng âm tạo thành note tương ứng. Tuy rằng scale dài thì bạn bend vib được dễ hơn, tuy nhiên ví dụ bạn bend lên thêm 1 note thì chiều dài bạn phải bend xa hơn so với scale ngắn.


17) Multi-scale & Fanned-Fret. Để giải thích thêm về sư liên quan của độ dài scale với âm thanh, chúng ta sẽ đi tìm hiểu thêm về Multi-scale hay còn gọi với một tên khác là Fanned-Fret trong đàn guitar. Nguyên lý Fanned-Fret được áp dụng từ những thế kỷ thứ 16 trên cây đàn Bandora, nhằm mang lại nhưng note thấp có bass sâu và đầm hơn, còn các note cao có nhiều treble hơn. Khái niệm về Multiscale fingerboard được chính thức hình thành và đăng ký bản quyền vào những năm 1900 bởi E. A. Edgren. Tuy nhiên mãi tới năm 1977 khái niệm này mới được áp dụng vào cây đàn StarrBoard, được phát mình bởi John D. Starrett. Năm 1989, Ralph Novak được cấp bằng sáng chế cho cái tên "Fanned-Fret" áp dụng trên các cây đàn. Nghĩa là các Frets của cây đàn trong định nghĩa Fanned Fret sẽ không song song với nhau, mà chúng tạo với nhau những góc tương hình hình cánh quạt. Ví thế có tên Fanned-Fret.

Xét về thực tế Multi-scale & Fanned-Fret đều là những lý thuyết vận dụng đàn Piano và Harp nhằm mang lại cho những note trầm có nhiều bass hơn, nhiều sustain hơn và mang lại cho những note cao nhiều treble hơn và ngọt hơn. Nếu bạn mở năm các cây đàn Piano hoặc nhìn vào những cây đàn Harp. Mỗi một dây của chúng thể hiện một note. Những note trầm dây to hơn, dài hơn, còn những note cao dây ngắn hơn và nhỏ hơn. Chắc chúng ta ai cũng phải công nhận rằng Piano là đỉnh cao về thể hiện các note trong âm nhạc. Chính vì thế để vận dụng những lợi thế giống cây đàn Piano, Novak đã đưa ra khái niệm Fanned Fret. Đồng thời một cách rất tình cờ rằng Fanned Fret trên các cây đàn guitar lại mang lại một điểm lợi về công thái học (Ergonomic), giúp người chơi có độ thoái mái hơn so với các cây đàn truyền thống có các frets song song

OK, nếu vậy thì có lẽ Fanned-Fret là tương lai của các cây đàn guitar hiện nay??!! Đúng mà vẫn chưa đủ, vì trong thế giới của âm nhạc chúng ta bi chi phối bởi chính cái tai của mình. Quan trọng là cái tai của bạn cần gì, bạn cần nhiều chất tiếng sáng rõ ràng, hay bạn cần chất âm hài hoà đầm ấm? Hãy nhở rằng định luận Fanned-Fret của Ralph Novak đã chỉ ra ra rằng dây càng ngắn treble càng hay hơn. Dây càng dài bass càng nhiều hơn. Dây ngắn có sustain (độ ngân) thấp hơn nhiều so với dây ngắn. Đồng thời với đó khi làm một bước so sánh và đo bằng máy, Novak đã chỉ ra rằng những cây đàn scale 25.5" có overtone nhiều hơn hẳn các cây đàn 24.75" và 25". Có nghĩa là đàn scale dài hơn, sẽ cho tiếng ấm hơn, trầm hơn, sâu hơn và ngân lâu hơn.


18) Drop tuning vs Standart tuning. Nếu bạn mua một cây đàn về đánh các style nhạc nặng với Drop tuning thì bạn nên chọn các cây đàn có độ dài scale 25.5", 26" hoặc 27" (không nên quá 27.5" vì nếu không như thế đàn của bạn tiếng sẽ không khác gì một cây bass, mà ở đây chúng ta đang bán tới việc chọn mua một cây guitar). Nếu bạn muốn mua đàn về chơi các chất nhạc cổ với Std tuning hay cần tiếng sáng và ngọt thì hãy chọn những cây đàn có độ dài scale từ 25" đến 24.75". Nữa là với scale dài hơn, khi bạn chơi các Drop tuning sâu, dây sẽ không bị nhão và kém đàn hồi.


19) Neck & Fingerboard. Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các cấu trúc neck và loại gỗ thì hãy quay lại nguyên tắc số 13 và tham khảo thêm tại topic Tone Woods cho Electric Guitar và Bass. Một vấn đề nữa mà chắc hẳn các bạn sẽ quan tâm đó là độ dày của Neck. Neck càng dày thì khả năng truyền tải năng lượng xuống body càng tốt, kết hợp cộng hưởng rung với body tốt hơn dẫn tới tiếng ngân lâu hơn và mạnh mẽ hơn. Đó là lẽ tất yếu, những cây đàn có neck mỏng thưởng tiếng cũng sẽ mỏng theo, sustain ngắn hơn, tiếng có phần nông hơn. Fingerboard cũng là một yếu tốt quan trong, ngoài chất liệu, thì độ dày cũng tác động tới sự hình thành tiếng cây đàn của bạn.


Neck được ghép từ nhiều miếng sẽ cho độ cứng chắc chơn so với neck được làm từ duy nhất một miếng. Tuy nhiên không cần quá nhiều miếng ghép chỉ từ 2~3 miếng ghép ở neck là hợp lý nếu không sẽ phản tác dụng trong khả nang truyền năng lượng và làm tiếng bị mỏng đi. Hiện nay một số cty và luthier làm neck được ghép từ 3 miếng gỗ nhưng giữa các lớp ghép này cho thêm một vài lát gỗ mỏng chạy thẳng từ đầu tới cuối, đây là một mánh gia tặng tính hình thức nhưng không gia tăng tính bền vững và khả năng truyền năng lượng cho neck.

Fingerboard càng dày thì độ ảnh hưởng của chất gỗ lên sự hình thành tone đàn càng nhiều, đồng thời cũng tạo ra được nhiều năng lượng rung hơn. Fingerboard càng mỏng thì thì năng lượng hấp tụ từ dao động dây ít hơn, tiếng có phần nông hơn.


20) Stainless Steel Frets vs Nickel Silver Frets. Đại đa số những cây đàn hiện nay đều dúng Nickel Silver Frets với kich thước theo chuẩn của hãng Dunlop. Tuy nhiên song song với đó vẫn còn một loại fret khác phát triển song song đó là Stainless Steel Frets (cũng sử dụng kích thước theo chuẩn của hãng Dunlop). Nickel Silver có nhiều lợi thế hơn về giá thành sản xuất cũng như gia công dễ dàng hơn. Nickel Silver trở thành chuẩn của những cây đàn từ rất nhiều thập kỷ nay. Stainless Steel Frets những năm gần đây đã có những bước tiến phát triển vượt bặc, với những lợi thế mà khó lòng Nickel Silver có thể so sánh nổi. Stainless Steel Frets có độ bền hơn rất nhiều lần so với Nickel Silver Frets. Nếu một cây đàn dùng Nickel Silver Frets phải thay frets sau 2~5 năm (tuỳ mực độ sử dụng) thì Stainless Steel Frets sẽ quãng thời gian đó sẽ tính trung bình bắt đầu từ sau 10 năm (tuỳ mực độ sử dụng thực tế, có thể ngắn hơn 1 2 năm hoặc nhiều hơn 4 5 năm nữa). Stainless Steel Frets bù lại có chi phí gia công lắp đặt cao hơn, vì chúng rất cứng nên chi phí cho dụng cụ cũng cao hơn theo thời gian. Stainless Steel cho tiếng sáng và long lanh hơn Nickel Silver. Nếu bạn dùng Stainless Steel thì nên cân nhắc Fingerboard dùng các loại gỗ ấm như Rosewood.


21) Mối liên quan của lớp gỗ body và lớp gỗ top body. Thông thường chúng ta hay thấy body Mahogany kết hợp với lớp top Maple, với mong muốn tạo cho chất tiếng sáng hơn mà vẫn giữ lại những lợi thế vốn có của gỗ Mahogany là ngọt ấm. Điều này đúng phần nào, nhưng nên nhớ rằng những cây đàn hay nhất là những cây đàn body 1 khối, không gỗ top, chúng sẽ cho bạn maximium năng lượng cộng hưởng dao động. Khi bạn đưa một lớp gỗ top lên trên nó giúp bạn tăng tính hình thức, nhưng chúng lại phần nào cắt gọt mất những ưu điểm của lớp gỗ body phía dưới. Cụ thể hơn là chúng sẽ giảm sustain và độ cộng hưởng. Tuy nhiên ở Mahogany thì điều này lại có lợi, vì Mahogany có thừa sustain và thừa độ trầm, thêm một lớp gỗ sáng ví dụ Maple, Ash sẽ giúp cho cây đàn có note sáng và rõ hơn. Tuy nhiên không nên lạm dụng quá nhiều trong vấn đề sử dụng lớp gỗ top. Nếu gỗ body của bạn đã hay và hợp ý bạn thì hay cứ để thế dùng, bạn cho thêm một lớp gỗ top lên mà gỗ top được kết dính bởi keo dán, lớp keo này sẽ hấp thụ mất một phần năng lượng cộng hưởng, kết quả là cây đàn sẽ cho tiếng nông và không hay.


22) Body concept: Khái niệm về đàn electric guitar khởi nguồn từ những năm đầu của thể kỷ 20 với nhu cầu khuếch đại âm lượng của cây đàn phục vụ cho những buổi thu âm và trình diễn lớn. Những concept đầu tiên về electric guitar dần được hình thành vào những năm 1910 khi họ nhận ra rằng có thể dùng bộ truyền tín hiểu của điện thoai khi đó gắn trong những cây đàn violin và banjo để khuếch đại âm lượng. Tiếp những năm 1920 1930 sau đó từ các concept ban đầu những sản phẩm đầu tiên ra đời với cơ cấu sử dụng microphone nhỏ gắn trong thân đàn rỗng (hollow) cho các nghệ sĩ nhạc Jazz để thu tín hiệu âm thanh, tiên phong khi đó là thiên tài Les Paul. 1931 khái niệm về electric amplify đầu tiên được ra đời bởi George Beauchamp. Các sản phẩm thương mai được sản xuất chính thức bắt đầu vào năm 1932 bởi Ro-Pat-In Corporation (Electro-Patent-Instrument Company Los Angeles) là sự hợp tác của George Beauchamp, Adolph Rickenbacker và Paul Barth. Năm 1934 công ty được đổi tên thành Rickenbacker Electro Stringed Instrument Company. Khái niệm về solid body với thân đặc không cần sự cộng hưởng của không khí bên trong thân để tạo thành tiếng được ra đời vào năm 1931 và chính thức được sản xuất vào hè năm 1932 bởi Rickenbacker, thân khá nhỏ được mô phỏng theo cây đàn Hawaii, bằng nhôm và có pickup dạng từ tính được nằm trên dây đàn do Beauchamp chế tạo. Cty Gibson lần đầu tiên giới thiệu cây đàn điện hollow body của mình mang tên ES-150 (ES là Electric Spanish, 150 là 150$ giá cây đàn khi đó được bán ra thị trường) vào năm 1936. ES-150 với pickup single coil dạng bar được thiết kế bởi Walt Fuller, nhanh chóng trở nên phổ biến nhất vào thời bấy giờ trong lang nhạc Jazz. Năm 1940 cây đàn electric guitar solid body với đầy đủ chức năng được thiết kế và sản xuất chính thức đầu tiền bởi Les Paul dựa trên mẫu acoustic archtop của Epiphone. 1948 Leo Fender độc lập giới thiệu mẫu Fender Broadcaster (sau bị đổi tên thành Esquire vì lý do bản quyền). 1949 Leo Fender tiếp tục hoàn thiện thiết kế của mình một cây electric guitar với soild body dạng mỏng. Đến năm 1950 mẫu thiết kế này được chính thức ra mắt lần đầu dưới cái tên Fender Esquire (với 1 single coil pickup ở bridge). Một năm sau đó tức năm 1951 Telecaster ra đời là phiên bản với 2 single coil pickup. Có nhiều lời đòn rằng Fender khi đó có vẻ như đã thiết kế dựa trên mẫu Rickenbacker Bakelite tuy nhiên ông chưa từng công nhận điều này một lần nào. Cây Telecaster ban đầu được trang bị với hai single coil pickup và được sử dụng rộng rãi trên toàn thế giới, đã trở thành một trong những cây electric guitar phổ biến nhất trong lịch sử. Les Paul trong khoảng thời gian này đã cố gắng tiếp cận với cty Gibson với các mẫu thiết kế của mình, tuy nhiên không được chấp nhận. Cho đến mãi 1950 dưới sức ép mạnh mẹ bởi doanh số bán ra của Fender Telecaster, Gibson quyết định sản xuất thêm dòng solid body electric guitar dựa trên nhiều mẫu của các hãng khác nhau. Một mẫu thiết kế bởi Ted McCarty cùng sự hợp tác của Les Paul ra đời năm 1952 dưới cái tên Gibson "Les Paul". Gibson Les Paul với hình dáng mềm mại mang dáng dấp của những cây đàn dáng khuyết 1 góc (single cutaway) đã nhanh chóng gặt hái được thành công và được thị trường đón nhận. Dạng Les Paul có nhiều mẫu khác nhau như Custom, the Standard, the Special, và the Junior. Với dự định nâng cấp Telecaster, Leo Fender sau rất nhiều đắn đo đã quyết định gạt dáng Telecaster sang một bên và thiết kế một dáng mới dựa trên các phản hồi của khách hàng. Leo Fender cùng sự trợ giúp của nhà sáng chế Freddie Tavares đã cùng bắt tay đặt những nét vẽ đầu tiền cho Stratocaster vào cuối năm 1953. Thiết kế của Stratocaster được hoàn thiện vào năm 1954 với hai cutaway (double-cutaway) mang lại sự cân bằng cho cây đàn, cũng như sự thuận tiện cho người chơi khi đánh ở các fret cao. Cùng với đó là thiết kế mang tính cải tiến với dang body công thái học với các đường cắt phía sau ôm lấy cơ thể, flattop với đường cắt vát về sau thuận tiện cho người chơi để tay thoải mái. 3 single coil pickup, 5 way switch, scale 25.5" và nhún 1 chiều. Stratocaster hội tụ đầy những đủ tinh hoa gần 50 năm đầu phát triển của Electric guitar thế giới, nó nhanh chóng cùng Telecaster làm mưa làm gió trong làng âm nhạc thế giới. Cùng với đó cũng là sự lớn mạnh của Gibson Les Paul, và Gibson ES. 4 dáng đàn đặt nền móng cho tương lai của làng nhạc cụ thế giới sau này.


Sau rất nhiều những thông tin về lịch sử hình hành cáng dáng đàn, các bạn nghĩ chúng ta đã có được những gì? Nếu các bạn hỏi tôi dáng đàn nào phù hợp nhất cho người chơi đàn thì tôi sẽ ngay lập tức và không ngận ngại mà nói rằng dáng Stratocaster. Đúng thế với 2 cutaway, body với những đường cắt mang tinh công thái học giúp người chơi thuận tiện hơn trong mọi lối chơi, body có độ cân bằng tốt, không quá nặng, cho tiết thanh thoát dù dùng với bất kỳ loại pickup gì. Dáng Stratocaster là cơ sở và tiền đề hình thành nên những huyền thoại của của làng nhạc cụ thế giới Jackson, Kramer, Charvel, Ibanez ..v..v.. với dáng Super Strat. Cùng với dáng Strat dòng đàn double-cutaway cũng có rất nhiều biến thể khác ví dụ dáng Explorer, V, PRS, SG ..v..v.. Nhìn chung các dáng đàn Double Cutaway có lợi thế hơn vì độ thuận tiền cho những người chơi với yêu cầu nhiều phong cách khác nhau. Tuy vậy dáng Single Cutaway với các đại diện ưu tú như Telecaster, Les Paul, ES ..v..v.. cũng không vì thế mà mất đi vị trí của mình trong tiến trình lịch sử, với rất nhiều thế hệ người chơi chúng vẫn là niềm đam mê và khát khao của họ. Vi vậy bạn hãy cân nhắc cũng như xem xét nhu cầu của bản thân mình rồi từ đọ chọn ra những dáng đàn phù hợp với bản thân và lối chơi của mình

23) Neck Joint: Bolt-on & Bolt-in Đây là một thiết kế đã xuất hiện từ những thời kỳ đầu của lịch sử cây đàn điện. Thủa ban đầu nó được hình thành với thiết kế đinh ốc xuyên qua một lớp gỗ có kê thêm miếng đệm sắt gá thẳng vào gỗ của neck. Trong những thời kỳ đầu có rất nhiều người coi đó là một cấu trúc thiếu tính bền vững. Xét về một khía cạnh nào đó thì có thể điều đó là đúng, vì trong những giao đoạn ban đầu các nhà sản xuất có phần vẫn chưa lường hết được những yếu tố bên ngoài tác động tới cây đàn, cùng với đó là thiết kế chưa đạt tới độ tinh xảo, chặt chẽ cần thiết bên cạnh đó là tay nghề của người làm trong dây chuyền gia công hàng loạt. Tuy nhiên theo thời gian thiết kế này được nâng cấp và hoàn thiện dần. Nếu như ở cây đàn dáng Strat Bolt-on thì vùng gắn neck với body (Neck Joint) được thiết kế chìa ra phía trước. Thì sau này những năm trở lại đây có thêm thiết kế Bolt-in, neck joint được thiết kế sâu vào bên trong body gần như chúng ta không thấy vùng chìa ra nữa, thiết kế này bảo toàn những ưu điểm của Bolt-on, đồng thời mang lại thêm nhiều sự thuận tiện cho người chơi hay phải chạy tay vùng fret cao, vì khi đó neck joint nằm sâu trong khung vực body nên người chơi hầu như không bị vướng, Bolt-in mang lại lại cảm giác gần giống Neck-Thru. Một nâng cấp khác của Bolt-on & Bolt-in đó là thời này các luthier không gá trực tiếp đinh vít vào gỗ, vì kiểu này không có thợi theo thời gian, cũng như chất lượng mối nối sẽ giảm dần nếu phải bảo trì tháo ra tháo vào nhiều. Để khắc phục điều này, họ thiết kệ thêm những bulong (Eng gọi là Nut) vào trong hoặc vào phía mặt sau đối diện với chiều đinh vít để giữ. Thiết kế này tương đối hoàn hảo, vì người chơi sẽ không sợ làm tổn hại tới neck joint khi phải tháo ra, lăp vào nhiều. Tuổi thọ rất cao. Tuy nhiên cùng với đó chi phí gia công cũng cao hơn. Thường ít thấy trong các dòng đàn thương mại, đa phần chỉ tồn tại trong những cây đàn custom.

Với thiết kế Bolt-on & Bolt-in bạn nên chọn những thiết kế với 4 hoặc 5 ốc (hoăc nhiều hơn nữa) vì chúng sẽ giúp cố định và giữa chặt neck với body, gia tăng độ cộng hưởng truyền tải năng lượng rung động từ dây đàn xuống body. Hãy tránh xa những thiết kế 2 hoặc 3 ốc vì những cây đàn này sẽ có neck joint thiết tính cân bằng trong trợ lưc và tương đối yếu. 2 hoặc 3 ốc thường thấy trong các cây đàn với lối thiết kế cổ điển.


24) Fingerboard Radius. Ngay từ khi mới ra đời Fingerboard Radius của những cây đàn điện có giá trị tương đối nhỏ tầm 7.25" (184.1 mm) (Độ cong tính theo bán kính đường tròn) với đàn Fender và 12" (305 mm) với đàn Gibson Les Paul. Theo thời gian để mang lại sự thuận tiện cho người chơi Fingerboard Radius được tăng dần lên 10", 12", 16", 20". Cá biệt có những cây đàn có Fingerboard Radius tuyệt đối phẳng giống như ta thường thấy ở những cây đàn Classic (ví dụ cây Vigier Shawn Lane). Vì sao cần phải quan tâm tới Fingerboard Radius, bởi vì nó ảnh hưởng trực tiếp tới lối chơi của bạn. Hãy thử tượng tượng sẽ bất tiện thế nào nếu các shredder chạy note trên những cây đàn với radius 7". Radius giá trị càng nhỏ sẽ làm cho Fingerboard của các bạn càng cong. Xét ở một phương diện nào đó radius cong sẽ có lợi cho việc bấm hợp âm. Nhưng lại bất lợi cho chạy ngon và bend. Vì nếu radius quá nhỏ thì khi bạn bend sẽ không được nhiều vì dây sẽ chạm các fret khác cao hơn, hiện tượng này nó gọi à Fret Out. Chính vì thế mà những cây đàn hiện đại thường sử dụng radius có giá trị 12"~16". Các tay solo và shredder cũng như các guitarist yêu thích tốc độ thường lựa chọn các cây guitar có radius 20". Fingerboard Radius phẳng tuyệt đối, sẽ là lựa chọn tối ưu nếu bạn là tay guitarist tốc độ. Tuy nhiên nếu phẳng tuyệt đối bạn sẽ hy sinh một chút về mặt công thái học vì ngón tay người thường có độ cong nào đó, đồng nghĩa với đó là bấm hợp âm sẽ khó hơn chút. Và nếu phẳng tuyệt đối, bạn sẽ gặp phải chút khó khăn trong thời kỳ đầu làm quen. Nhưng sau khi đã quen rồi thì bạn sẽ không bao giờ muốn quay lại với những cây đàn có radius nhỏ.

Trong quá trình chọn mua đàn, nếu bạn chơi theo các style nhẹ nhàng hoặc hơi chút vintage, thì các radius tầm 9"~12" sẽ phù hợp với bạn. Nếu bạn chơi phong cách hiện đại thì các giá trị 16", 20" và flat sẽ là lựa chọn hàng đầu. Với những người muốn có radius phù hợp để chơi mọi thể loại thì rất nhiều hãng đưa ra lựa chọn radius thay đổi, cụ thể là ở các fret đầu sẽ có radius 12" càng về sau radius sẽ chuyển thành 16" để tiện cho các cậu solo tại các fret cao.


25) Scarf Joint neck và headstock. Đây là một khái niệm chỉ neck và headstock của cây đàn không liền một khối gỗ với nhau. Như chúng ta đã biết, các hãng thường tạo một góc tréo để cố định dây ở Nut không cho chúng di chuyển khi người chơi thực hiện các kỹ thuật như bend, vib, hay tremolo. Tuy nhiên việc uốn một khúc gỗ dầy không hề đơn giản và mất nhiều thời gian cũng như công phu. Vì vậy trong quá trình hình thành và phát triển, người ta sử dụng một công nghệ có tên Scarf Joint. Scarf Joint tức là trong một khối neck dài, bạn cát một góc tréo phần đầu ra làm head, với một góc cắt tầm 10~15 độ. Lợi ích của Scarf Joint là tích kiệm chi phí gia công, cũng như tích kiệm gấp đôi lượng gỗ phải dùng trong chế tạo neck. Tuy nhiên điểm yếu của công nghệ này thì người dùng hoàn toàn gánh hậu quả. 2 miếng gỗ được dính với nhau bằng keo, lớp keo này sẽ hấp thụ năng lượng cộng hưởng rung được tạo ra trong quá trình chơi làm giảm chất lượng tiếng đàn. Nữa là khí được dính bằng keo, thì nếu trong điều kiện khí hậu như ở VN, nóng ẩm thất thường, thì không có gì khó hiểu nếu một này bạn thấy headstock của bình bung hoặc gẫy hay ai may mắn hơn thì sẽ chỉ bị nứt chỗ mối dính keo đó. Chính vì vậy mà nếu bạn thực sự muốn đầu tư một con đàn chơi lâu dài thì hay chọn những cây neck và headstock liền một khối.


26) Intonation, đây là một từ chuyên môn mà bạn cần lưu ý trong quá trình trọn đàn. Nếu bạn chú ý những cây đàn giờ thường có bridge có thể thay đổi đọ dài của dây (trong một khoảng nhất định cho phép của cấu tạo bridge). Intonation là ý chỉ việc bạn căn chỉnh sao cho đàn bớt phô ở các note cao. Phần đông ở Việt Nam người chơi đàn không biết Intonation, việc này dẫn tới hệ luỵ là các cây đàn bị sự chính xác, nhất là với ai thường chơi các fret cao sau fret 12. Intonation tức là chúng ta chỉnh độ cân bằng note cách nhau một quãng tám (Octave). Ví dụ bạn đánh dây buông và đánh chặn các dây ở fret 12 thì độ chuẩn các dây phải như nhau (cùng ký hiệu note nhưng cách nhau một quãng 8). Những cây đàn không Intonation thường bị phô rất nhiều, nhiều nhất bắt đầu kể từ fret 10, càng các fret cao các note càng phô nhiều hơn, độ phô nhiều khi có thể lên tới 1 note. Khi bạn căn chỉnh Intonation một cách hiệu quả, thì giá trị cây đàn của bạn sẽ tăng lên một cách đáng kể. Nhưng nên nhớ rằng đàn guitar không phải piano, nó vẫn luôn có một sai số nhất định và Intonation chỉ giải quyết sự cân bằng khi đánh dây buông và đánh dây ở fret 12. Tuy nhiên bạn không nên quá lo lắng vì chỉ cần bạn chỉnh Intonation đúng cách thì các nature harmonic overtone các note sẽ hợp lý và... hợp tai. Khi bạn chỉnh Intonation, tực tay bạn bấm xuống dây fret 12, cũng sẽ ảnh hưởng tới độ căng của dây làm ảnh hưởng tới cao độ note, nên hay chú ý trong quá trình chỉnh Intonation bấm tại fret 12 sao cho cân bằng nhất, lực đều giống lúc bạn chơi, không xê dịch lên trước hoặc sau.


27) Chọn Bridge hiệu quả và đúng cách. Trong phần này Bridge ở đây ám chỉ bộ phận chặn dây ở cuối cùng (chứ ko phải bridge pickup). Vì sao chúng ta phải chọn Bridge, vì nó liên quan tới phong cách chơi và hiệu năng của cây đàn. Bridge nhìn chung có 2 loại: Fixed - loại Bridge cố định. Tremolo - loại bridge có khả năng nhún 1 hoặc 2 chiều. Nếu bạn muốn tìm hiểu sự khác biệt của 2 loại này thì hãy đọc lại nguyên tắc số 7. Trong nguyên tắc này chúng ta sẽ bàn về chọn Bridge để tối ưu hoá Intonation cho phù hợp cách chơi của người dùng. Khi bạn chỉnh Intonation nếu bạn tìm hiểu sâu về nó thì sẽ thấy nếu nâng Bridge lên cao, hay thay cỡ dây to hơn thì bạn càng phải lùi về sau kéo dài độ dài cơ sở của dây để có Intonation chính xác. Nếu bạn chỉ chơi các cỡ dây 9-42 hay 10-46 thì bạn sẽ không phải quá lo lắng. Nhưng nếu bạn muốn chơi các cỡ dây to, hay hạ dây, chơi drop sâu, thì Bridge sẽ trở nên rất quan trọng. Một số lại Birdge không cho phép bạn kéo dài chiều dài cơ sở của dây về sau quá xa, ví dụ loại Bridge Tailpiece trên các cây đàn Les Paul (hoặc tương tự) loại bridge này rất hạn chế trong quá trình người dùng tinh chỉnh Intonation trong một số trường hợp dù ở các cỡ dây cơ bản bạn cũng sẽ không thể chỉnh Intonation một cách hoàn hảo. Ví dụ loại Bridge trên các cây đàn Strat, hay nhún Floyd Rose, hay loại của Hipshot cho khả năng điều chỉnh chiều dài dây ở biên độ xa hơn, tối ưu hoá trong quá tình chỉnh Intonation. Trong những trường hợp các cây đàn phục vụ cho việc chơi drop sâu và dùng dây to, nhiều nhà sản xuất đã quyết định đặt bridge xa hơn thông số kỹ thuật ban đầu ví dụ thường thấy ở một số dòng Caparison. Hãy xét từ phong cách chơi của bạn, hãy nghĩ xa hơn một chút về tương lai, liệu bạn có chơi drop với các cỡ dây to hay không, từ đó lựa chọn những giải pháp thích hợp cho cây đàn của mình.


28) Yếu tố con người trong quá trình lựa chọn mua đàn. Khi bạn là newbie hay chưa hình thành một style sở thích rõ ràng. Thì cách tốt nhất là không nên tham khảo bất kỳ ai cả, vì "Mỗi cây mỗi hoa. Mỗi nhà mỗi cảnh", không phải ai cũng giống ai. Để tiết kiệm đồng tiền bạn nên tin vào bản thân của chính mình. Khi bạn phân vân không biết nên mua đàn thế nào thì hãy tự xét ở bản thân mình xem bạn thích những nghệ sĩ nào, thích nhưng chất tiếng của nghệ sĩ nào. Từ đó hãy tìm hiểm thêm về nghệ sĩ đó, xem phong cách chơi của họ, dùng đàn gì, dáng gì, pickup gì, bridge kiểu gì..v..v.. từ đó lựa chọn ra các thành phần hợp ý bạn từ đó phắc thảo dần lên cây đàn trong mơ của bạn.

Không có cây đàn nào hoàn hảo cho tất cả mọi người. Cây đàn hoàn hảo với bạn sẽ là cây đàn đáp ứng được như cầu chơi và phong cách chơi của bạn. Điều quan trọng là bạn phải định hình được mình cần gì, mình muốn gì. Từ đó chọn ra giải pháp thích hợp nhất cho mình. Đàn không thể làm thay phần việc chính của bạn đó là chơi đàn. Đừng quá GAS để chạy theo những con đàn trời ơi đất hỡi, quá khá năng của bạn hoặc đơn giản bạn mua vì chỉ thấy nó đẹp, đẹp không hẳn có nghĩa là đã hay. Các cụ ta đã từng dậy "Người đẹp vì lụa. Lúa tốt vì phân", "Tốt gỗ hơn tốt nước sơn" có phải không!! Chúng ta chơi đàn chứ đừng để đàn chơi lại chúng ta!


Good Luck & Have Fun


Happy are those who dream dreams and are ready to pay the price to make them come true!

Nguồn: http://muzicarena.com/showthread.php...lectric-Guitar

+5 EXP
__________________
-Invalid signature-
Trả lời với trích dẫn
The Following 4 Users Say Thank You to SirZozzo For This Useful Post:
blueriver92 (03-05-12), Envil (03-06-12), lethienngan (17-06-12), tuan1010 (04-05-12)
Sponsored Links
Trả lời

Đánh dấu

Tags
âm nhạc, âm nhạc., acoustic, ban guitar electric cu, công ty, cổ điển, chữa, chiều, chinh action floyd rose, classic, dan guitar ergonomic, electric guitar mua ban, guitar, guitar điên chavel, hợp âm, kỹ thuật, lịch sử, người, quá trình, tình cờ, tiến phát, tremolo, trong

Công cụ bài viết
Kiểu hiển thị

Quyền viết bài
Bạn không thể gửi chủ đề mới
Bạn không thể gửi trả lời
Bạn không thể gửi file đính kèm
Bạn không thể sửa bài viết của mình

BB code đang Mở
Mặt cười đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt

Chuyển đến


Múi giờ GMT +7. Hiện tại là 08:20 AM


Powered by vBulletin® Version 3.8.4
Copyright ©2000 - 2017, vBulletin Solutions, Inc.
GuitarPro.Vn